Lịch sử Hy Lạp cổ đại

0

Tổng quan Lịch sử Hy Lạp cổ đại.

I. Địa lý và cư dân.

Lãnh thổ của Hy Lạp cổ đại bao gồm: miền Nam bán đảo Ban căng, các đảo trên biển Egiê và miền ven biển phía Tây Tiểu Á, trong đó quan trọng nhất là miền Nam bán đảo Ban căng tức là vùng lục địa Hy Lạp.

Miền lục địa Hy Lạp chia làm ba miền: Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ. Từ Bắc bộ xuống Trung bộ phải qua đèo Técmôpin. Trung bộ có nhiều thành phố, trong đó nổi tiếng nhất là Aten. Ranh giới giữa Trung bộ và Nam bộ ở eo đất Coranh. Nam bộ là một bán đảo có nhiều đồng bằng gọi là bán đảo Pêlôpônedơ.

Điều kiện địa lý của Hy Lạp thuận lợi cho việc phát triển công thương nghiệp.

Cư dân Hy Lạp cổ đại gồm nhiều tộc người:

  • Người Eôliêng chủ yếu cư trú ở Bắc bán đảo Ban căng. Người Iôniêng ở miền Trung
  • Người Akêăng ở vùng Bắc bán đảo Pêlôpônedơ.
  • Người Đôriêng ở phần bán đảo Pêlôpônedơ và đảo Crét.

Lịch sử Hy Lạp cổ đại từ khi thành lập nhà nước đến khi bị nhập vào đế quốc La Mã bao gồm bốn thời kì:

  • Thời kì văn hoá Crét – Myxen. Thời kì Hôme.
  • Thời kì thành bang .
  • Thời kì Makêđônia làm bá chủ Hy Lạp.

II. Văn hoá Crét Myxen và thời Hôme:

1. Văn hoá Crét – Myxen:

Từ sớm, ở vùng biển Egiê mà trung tâm là bán đảo Crét và vùng Myxen đã từng tồn tại những nền văn minh rực rỡ, nhưng mãi đến thập kỷ 70 của thế kỉ XIX về sau, nhờ các cuộc khai quật khảo cổ học, người ta mới biết được tương đối cụ thể các nền văn minh đó.

Tại Crét và Myxen, người ta đã tìm thấy những cung điện, thành quách và nhiều hiện vật khác trong đó có cả chữ viết.

Nền văn minh Cret tồn tại trong 1800 năm. Từ đầu thiên kỷ thứ III đến thế kỷ thứ XII TCN, trong đó thời kỳ phát triển rực rỡ nhất là vào khoảng thế kỷ XVII – XV TCN.

Chủ nhân của nền văn hoá Myxen là người Akêăng, một chi nhánh của người Hy Lạp từ phía Bắc di cư xuống phía Nam vào khoảng cuối thiên kỷ thứ III đầu thiên kỷ thứ II TCN. Thời kỳ huy hoàng nhất của nền văn hóa Myxen là từ thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ XII TCN.

Cơ sở của cả hai nền văn hóa này đều là đồ đồng thau. Như vậy, thời kì văn hóa Crét- Myxen là thời kỳ đã tồn tại những nhà nước tương đối phát triển.

Trên cơ sở ấy, từ năm 1194 – 1184 TCN, Myxen đã tấn công thành Tơroa ở Tiểu Á, và Myxen đã dành được thắng lợi.

Sau cuộc chiến tranh này 80 năm tức là đến cuối thế kỉ thứ XII TCN, người Đôriêng với vũ khí bằng sắt từ phía Bắc tràn xuống tiêu diệt các quốc gia ở Myxen và Crét. Thời kì Crét – Myxen kết thúc.

2. Thời kì Hôme ( Thế kỉ XI – IX TCN)

Thời kì này sở dĩ gọi như vậy là vì lịch sử Hy Lạp trong giai đoạn này được phản ánh trong hai tập sử thi là Iliát và Ođixê của nhà thơ mù Hôme.

Nội dung của Iliát và Ođixê nói về cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp với thành Tơroa xảy ra cuối thời Myxen, nhưng chất liệu của cuộc sống hiện thực mà tác giả sử dụng để xây dựng tác phẩm như tình hình sinh hoạt, phong tục tập quán, quan hệ xã hội… thì thuộc thời kì từ thế kỷ thứ XI – IX TCN.

Xã hội Hy Lạp thời Hôme được phản ánh trong hai tập thơ này không phải là sự phát triển tiếp tục xã hội có nhà nước thời Crét Myxen mà là giai đoạn cuối của xã hội nguyên thuỷ.

Lúc bấy giờ, sự phân hoá giàu nghèo đã diễn ra rõ rệt, nô lệ cũng đã xuất hiện. Tuy vậy, nhà nước chưa ra đời. Đứng đầu bộ lạc là badilớt ( basileus ) nhân vật này chưa phải là vua mà chỉ là thủ lĩnh quân sự.

Bên cạnh badilớt còn có Đại hội nhân dân bao gồm toàn thể thành viên nam giới của bộ lạc, và Hội đồng trưởng lão bao gồm các cụ tộc trưởng các thị tộc.

Thời kì xã hội vừa có thủ lĩnh quân sự vừa có Đại hội nhân dân gọi là thời kì dân chủ quân sự, còn gọi là thời đại anh hùng.

III. Thời kì thành bang: ( Thế kỷ VIII – IV TCN )

Do sự phát triển của các ngành kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, nhiều thành thị đã ra đời ở Hy Lạp và Tiểu Á. Đồng thời sự phát triển về kinh tế đã dẫn đến việc phân chia cư dân Hy Lạp thành ba loại: quý tộc, nô lệ và bình dân. Trên cơ sở đó, đến thế kỷ thứ VIII TCN, ở Hy Lạp một lần nữa lại xuất hiện nhiều nhà nước nhỏ lấy một thành thị làm trung tâm gọi là những thành bang.

Trong số các thành bang ở Hy Lạp, quan trọng nhất là thành bang Xpác và thành bang Aten, vì đây là hai lực lượng hùng mạnh nhất làm nòng cốt cho lịch sử Hy Lạp cổ đại.

1. Thành bang Xpác:

a/ Quá trình thành lập nhà nước :

Xpác nằm ở phía Nam bán đảo Pêlôpônedơ. Vùng này không thuận tiện đối với công thương nghiệp, nhưng đất đai tốt, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đồng thời có nhiều sắt để làm vũ khí và dụng cụ.

Qúa trình thành lập nhà nước Xpác là quá trình xâm lược và thiết lập ách thống trị của người Đôriêng ở đây và họ được gọi là người Xpác.

Người Xpác là kẻ thống trị, là chủ nô. Họ không làm các nghề kinh tế mà chỉ có nhiệm vụ cai trị và đánh giặc.

Cư dân bản xứ là người Akêăng. Họ bị biến thành dân bị trị gọi là người Pêriéc và người Ilốt. Họ phải làm các nghề kinh tế. Đặc biệt là người Ilốt phải cày cấy ruộng đất và nộp một nửa thu hoạch cho người Xpác.

b/ Tổ chức nhà nước và quân đội:

Nhà nước Xpác là nhà nước cộng hoà quý tộc. Đứng đầu nhà nước là hai vua có quyền lực ngang nhau.Bên cạnh hai vua còn có hội đồng trưởng lão gồm 30 người ( kể cả hai vua ) từ 61 tuổi trở lên.

Ngoài ra, còn có Hội nghị nhân dân mà thành viên là tất cả những người đàn ông Xpác từ 30 tuổi trở lên.

Về quân sự, Xpác có một đội bộ binh rất hùng mạnh. Tất cả con trai Xpác đều phải rèn luyện trong các trại tập trung của nhà nước, đến 20 tuổi thì chính thức trở thành chiến sĩ và phải ở trong quân đội tới 60 tuổi.

Như vậy Xpác là một thành bang bảo thủ về chính trị, lạc hậu về kinh tế và văn hóa nhưng lại là một thành bang hùng mạnh về quân sự.

Với ưu thế ấy, Xpác bắt các thành bang lân cận trở thành chư hầu của mình và đến năm 530 TCN thì thành lập một đồng minh do Xpác cầm đầu gọi là đồng minh Pêlôpônedơ nhằm mục đích giành quyền bá chủ ở Hy Lạp.

2. Thành bang Aten :

a/ Sự ra đời và phát triển của nhà nước dân chủ:

Aten ở miền Trung Hy Lạp. Đây chủ yếu là một vùng đồi núi, không thuận tiện đối với việc sản xuất nông nghiệp, nhưng lại có nhiều khoáng sản và có hải cảng tốt nên rất thuận lợi trong việc phát triển công thương nghiệp.

Thời Hôme, ở xung quanh Aten có bốn bộ lạc người Iôniêng. Đến khoảng thế kỉ VIII TCN, do sự phát triển về kinh tế và sự phân hóa giai cấp, nhà nước ở Aten bắt đầu ra đời. Tuy nhiên tính chất dân chủ của nhà nước Aten lúc bấy giờ còn rất hạn chế. Do sự đấu tranh không ngừng của quần chúng, Aten phải nhiều lần cải cách để hoàn thiện chế độ dân chủ, trong đó quan trọng nhất là cuộc cải cách Xô lông và cuộc cải cách Clixten.

– Cải cách Xô lông:

Năm 594 TCN, Xô lông được cử làm quan chấp chính. Ông đã thi hành những chính sách cải cách sau đây:

Về kinh tế, xã hội: Xóa nợ, trả lại ruộng đất gán nợ cho nông dân, trả lại tự do cho nô lệ vì nợ.

Về chính trị: Căn cứ theo tài sản, chia cư dân thành bốn đẳng cấp có quyền lợi khác nhau.

Đồng thời thành lập hội đồng 400 người có chức năng giải quyết những công việc hàng ngày giữa các kì Đại hội nhân dân.

Những chính sách cải cách của Xô lông đã làm cho nhà nước Aten được dân chủ hoá thêm một bước.

– Cải cách Clixten:

Do sự chuyên quyền của giới quý tộc, dưới sự lãnh đạo của Clixten, quần chúng nhân dân đã nổi dậy khởi nghĩa lật đổ chính quyền của quý tộc. Clixten được cử làm quan chấp chính số 1. Năm 508 TCN Clixten thi hành một loạt cải cách nhằm dân chủ hóa hơn nữa nhà nước Aten.

Kết quả, những người có quyền công dân ở Aten đều được hưởng quyền dân chủ tương đối rộng rãi như:

+ Được tham dự đại hội công dân.

+ Tất cả mọi công dân từ 20 tuổi trở lên đều có thể được bầu làm thành viên của Hội đồng 500 người, đó là cơ quan lãnh đạo của Nhà nước.

+ Các công dân còn được quyền bỏ phiếu bằng vỏ sò để trục xuất những người mà họ nghi là có hại đối với nền dân chủ của Aten.

Tuy tính chất dân chủ của nhà nước Aten đến đây tương đối triệt để, nhưng số người có quyền công dân ở Aten rất ít vì đại đa số cư dân Aten là nô lệ và ngoại kiều. Hai loại người này không có quyền công dân, do đó không được tham gia các sinh hoạt dân chủ.

3. Cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư:

Trong khi Aten đang bước vào thời kì phát triển về mọi mặt thì đến đầu thế kỉ V TCN, Hy Lạp phải tiến hành một cuộc chiến tranh chống sự xâm lược của Ba Tư, lịch sử gọi là cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư.

– Nguyên nhân: Ba Tư là một đế quốc rộng lớn ở Tây Á, lãnh thổ phía Đông đến tận An Độ, phía Nam bao gồm cả Ai Cập. Tuy vậy, Ba Tư còn muốn bành trướng sang phía Tây.

Cuộc chiến tranh này gồm ba chiến dịch lớn:

+ Chiến dịch Maratông:Năm 490 TCN, quân Ba Tư đổ bộ lên cánh đồng Maratông, một địa điểm cách Aten hơn 42 km về phía Đông. Tuy lực lượng so sánh rất chênh lệch, nhưng quân Hy Lạp đã chiến thắng rất oanh liệt (1).

+ Chiến dịch Xalamin: Năm 480 TCN, tại trận thủy chiến ở vịnh Xalamin, quân Ba Tư lại bị thất bại hết sức nặng nề.

+ Chiến dịch Platê: Năm 479 TCN. Quân Hy Lạp lại đánh thắng quân Ba Tư ở Platê. Ba Tư bị thất bại hoàn toàn phải rút tàn quân về nước.

(1) Để báo tin thắng trận một chiến sĩ Aten đã chạy một mạch từ Maratông (Maraton) về Aten.Khi vừa về đến quảng trường Hội nghị công dân, anh ta chỉ kịp kêu lên:” Hỡi người Aten hãy vui mừng lên chúng ta đã thắng!” rồi ngã lăn ra chết. Do sự tích đó, trong đại hội Olimpích lần thứ I tổ chức năm 1896 ở Aten, người ta bắt đầu đưa vào một bộ môn điền kinh mới là môn chạy Maratông.

4. Sự cường thịnh của Aten:

Sau khi đánh thắng Ba Tư, các thành bang Hy Lạp mà biểu hiện là Aten bước vào thời kì cường thịnh nhất trong lịch sử của mình.Sự cường thịnh ấy biểu hiện ở các mặt sau đây:

a/ Quyền bá chủ trên biển:

Vốn giữ vai trò quan trọng trong cuộc chiến tranh chống Ba Tư, sau khi thắng lợi, uy tín của Aten rất cao. Hơn nữa, Aten vốn có nền thương nghiệp hàng hải phát triển phù hợp với nhiều thành bang lúc bấy giờ.

Trên cơ sở ấy năm 478 TCN, Aten giành được quyền bá chủ trên biển Egiê.

b/ Sự phát triển của chế độ nô lệ:

Quyền bá chủ trên biển là điều kiện quan trọng để cung cấp cho Aten một nguồn nô lệ nước ngoài phong phú vì nguồn nô lệ chủ yếu là tù binh và những người bị bắt cóc. Số lượng nô lệ ở Aten cũng như các thành bang khác ở Hy Lạp lúc bấy giờ rất đông vượt hẳn số dân tự do. Theo Atênê, một nhà văn Hy Lạp sống vào khoảng thế kỉ III, lúc bấy giờ Aten có khoảng 400.000 nô lệ, 21000 công dân, 10000 kiều dân.

Còn Ăng-ghen thì nói, Aten có: 365000 nô lệ, khoảng 90000 dân tự do, 45000 kiều dân.

Nô lệ là một giai cấp hết sức cực khổ. Họ không được coi là người mà chỉ là loại ” tài sản biết cử động”, là ” công cụ biết nói”, do đó chủ có thể đem nô lệ cho thuê, biếu tặng, hoặc biến thành món hàng để buôn bán. Nô lệ không có tài sản, không có quyền lập gia đình. Trong khi đó, nô lệ là lực lượng lao động chủ yếu trong nông nghiệp, thủ công nghiệp, trong hầm mỏ, trong các hiệu buôn và các thuyền buôn… Như vậy nô lệ ở Hy Lạp rất đông đảo về số lượng và giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế.

c/ Sự phát triển về công thương nghiệp:

Trên cơ sở phát triển của chế độ nô lệ và quyền bá chủ trên biển Egiê, đến thế kỉ V TCN, nền công thương nghiệp của Aten cũng phát triển rất mạnh mẽ. Aten sản xuất được nhiều sản phẩm thủ công với trình độ kỹ thuật cao mà tiêu biểu là đồ gốm, đồ sứ.

Quan hệ buôn bán với bên ngoài cũng mở rộng. Hải cảng Pirê được xây dựng thành một thương cảng và quân cảng rất tốt, trở thành một nơi xuất nhập khẩu hàng hóa quan trọng của Aten.

Đồng tiền của Aten được sử dụng rộng rãi trong tất cả các thành bang ở Hy Lạp, đồng thời biến thành một loại hàng hóa để trao đổi.

d/ Sự phát triển của chế độ dân chủ:

Chế độ dân chủ của Aten đến thời kì này lại càng hoàn thiện. Đặc biệt dưới thời Pêriclét, Aten đã thi hành nhiều chính sách về chính trị và kinh tế nhằm đảm bảo quyền dân chủ cho công dân như:

Tiếp tục duy trì tổ chức dân chủ có từ trước như: Đại hội nhân dân, Hội đồng 500 người, Tòa án nhân dân…, hơn nữa phần lớn các chức vụ đều được bổ nhiệm bằng cách bốc thăm. Đại hội nhân dân thì cú khoảng mười ngày họp một lần.

Aten còn thi hành các chế độ phúc lợi như cấp tiền cho công dân mua vé xem kịch, cấp phát lương thực cho người nghèo.

Đây cũng là thời kì Aten đã tạo điều kiện cho văn hóa phát triển rực rỡ. Nhiều nhà triết học, sử học, thi sĩ, diêu khắc… của Hy Lạp đã tập trung về Aten để lao động sáng tạo.

5. Cuộc chiến tranh Pêlôpônedơ: ( 431 – 404 TCN )

Trong khi các thành bang Hy Lạp đang bước vào thời kì phát triển mạnh mẽ thì giữa đồng minh Pêlôpônedơ do Xpác cầm đầu và đồng minh Đêlốt do Aten cầm đầu đã xảy ra một cuộc nội chiến, lịch sử gọi là chiến tranh Pêlôpônedơ.

Nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến tranh này là do sự phát triển khác nhau về đường lối chính trị và kinh tế của hai khối đồng minh.

Nguyên nhân trực tiếp là do Aten xung đột với Coranh, một thành viên của đồng minh Pêlôpônedơ.

Cuộc chiến tranh này bao gồm hai giai đoạn:

– Giai đoạn thứ nhất ( 431 – 421 TCN )

Màn đầu tiên của cuộc chiến tranh này là sự kiện thành bang Tebơ, đồng minh của Xpác, tấn công Platê, đồng minh của Aten năm 431 TCN.

Tiếp đó quân đồng minh Pêlôpônedơ do vua Xpác chỉ huy tấn công vào vùng Attích của Aten, tàn phá mùa màng, nhà cửa của nông dân. Nông dân Attích phải chạy vào sống chen chúc ở Aten.

Để trả đũa, hải quân Aten tấn công vùng ven biển Pêkôpônedơ, gây cho đồng minh Pêlôpônedơ nhất là Coranh nhiều thiệt hại.

Sau 10 năm tấn công lẫn nhau, hai bên chưa phân thắng bại. Vì vậy năm 421 TCN, hai bên đã đi đến một hòa trong đó quy định hai bên phải trao trả cho nhau những vùng đất đai bị chiếm và những người bị bắt trong chiến tranh.

Hòa ước này chỉ là sự hoãn binh của hai bên để chuẩn bị cho một cuộc đọ sức mới nhằm quyết định sự thắng bại vì vậy cả hai bên đều không có ý thức thực hiện nghiêm chỉnh những điều đã ký kết.

– Giai đoạn thứ hai: ( 415 – 404 TCN )

Hòa bình chỉ duy trì được 6 năm. Năm 415 Aten chủ trương đánh vào vùng Nam Ý và đảo Xixin để cướp của cải của vùng giàu có này đồng thời nhằm cắt đứt nguồn cung cấp lương thực cho các thành bang thuộc đồng minh Pêlôpônedơ.

Trong khi đó Xpác một mặt đưa quân đến phối hợp với các thành bang ở Xixin đánh tan hải quân của Aten, một mặt tấn công vào vùng Attích, đã gây cho Aten nhiều tổn thất.

Trong quá trình ấy, Xpác cũng xây dựng hải quân. Năm 408 TCN, hải quân Xpác đã đánh tan hải quan Aten. Đến năm 405 TCN, Aten lại bị thảm bại, 170 trong số 180 thuyền chiến bị bắt, 3000 người bị bắt, còn lại bị giết. Ngay sau đó Xpác đến bao vây Aten. Vì thế cùng lực kiệt, năm 404 TCN Aten phải xin hàng.

Một hiệp ước đầu hàng được kí kết với những điều khoản rất khắc nghiệt như:

+ Aten phải giải tán toàn bộ hải quân.

+ Phải giải tán đồng minh Đêlốt

+ Phải bỏ chế độ dân chủ

+ Phải thừa nhận quyền bá chủ của Xpác…

Thế là cuộc chiến tranh Pêlôpônedơ kéo dài 27 năm đến đây kết thúc bằng sự thất bại của Aten.

IV. Sự thiết lập quyền bá chủ ở Hy Lạp và cuộc chinh phục phương Đông của Makêđônia

1. Cuộc đấu tranh để giành quyền bá chủ ở Hy Lạp

Sau chiến tranh Pêlôpônedơ, Xpác trở thành bá chủ ở Hy Lạp. Nhưng quyền bá chủ của Xpác không duy trì được lâu, vì về kinh tế, chính trị và văn hóa, Xpác đều lạc hậu hơn các thành bang khác.

Thế lực của Aten dần dần được khôi phục. Năm 378 TCN, Aten lôi kéo được 70 thành bang tổ chức thành một đồng minh mới.

Thành bang Tebơ cũng trở thành một thành bang hùng mạnh, đã lôi kéo được nhiều thành bang ở miền Trung lập thành đồng minh Bê ô xi. Năm 371TCN, Tebơ đánh bại Xpác. Đồng minh Pêlôpônedơ đến đây tan rã. Quyền bá chủ của Xpác chấm dứt. Tuy vậy quyền bá chủ của Tebơ cũng chỉ duy trì được mười năm mà thôi.

Tình hình đó chứng minh rằng ở Hy Lạp không có một thành bang nào đủ mạnh để thống nhất Hy Lạp dưới thế lực của mình, trên cơ sở đó để bảo đảm sự ổn định cho xã hội Hy Lạp.

2. Sự thiết lập quyền bá chủ của Makêđônia Ở Hy Lạp

Trong khi các thành bang Hy Lạp đang đấu tranh với nhau để giành quyền bá chủ thì nước Makêđônia ở phía Bắc đang phát triển nhanh chóng.

Nhà nước Makêđônia bắt đầu ra đời từ thế kỉ V TCN. Đến thời vua Philíp II ( 359 – 336 TCB ), Makêđônia trở thành một nước hùng mạnh nhờ những cải cách về quân sự, kinh tế và tài chính.

Sau khi thế nước đã mạnh, Philíp II đã tấn công và chiếm được vùng Canxiđích và Tơraxơ, tiếp đó chuẩn bị đánh chiếm Hy Lạp và châu Á.

Năm 340 TCN, quân Makêđônia đánh tới vùng eo biển Henlexpông, việc buôn bán lúa mì của Aten ở vùng Hắc Hải bị đe dọa. Vì vậy, Aten đã đưa quân tới đánh nhau với quân Makêđônia và đã giành được thắng lợi.

Năm 338 TCN, Philíp II cho quân đánh thẳng xuống Hy Lạp và đã đánh bại quân đội của Aten và của Tebơ.

Sau đó, Philíp II chuyển sang dùng thủ đoạn chính trị. Năm 337 TCN, một cuộc hội nghị toàn Hy Lạp được triệu tập ở Coranh. Trong cuộc hội nghị này, Makêđônia được trao quyền chỉ huy quân đội toàn Hy Lạp để tấn công Ba Tư.

Như vậy về hình thức các thành bang Hy Lạp vẫn được độc lập nhưng thực chất đã biến thành chư hầu của Makêđônia, một số thành bang còn bị quân Makêđônia chiếm đóng.

3. Cuộc viễn chinh xâm lược phương Đông của Alếchxăng Makêđônia

Sau khi trở thành bá chủ toàn Hy Lạp, Makêđônia gấp rút chuẩn bị tấn công Ba Tư. Nhưng năm 336 TCN Philíp II bị giết chết trong lễ cưới của con gái ông. Con trai của Philíp II là Alếchxăng mới 20 tuổi lên nối ngôi.

Năm 334 TCN, Alếchxăng đem quân tấn công đế quốc Ba Tư. Năm 333 TCN, tại Ixốt, quân Makêđônia giành được thắng lợi lớn. Hoàng đế Ba Tư là Đariút III chạy thoát nhưng mẹ và vợ con ông bị bắt sống. Vua Ba Tư đề nghị giảng hoà nhưng Alếchxăng không chấp nhận.

Năm 332 TCN, quân Makêđônia tiến xuống Ai Cập ở đây họ được coi là những người đến giải phóng cho Ai Cập thoát khỏi sự thống trị của Ba Tư.

Năm 331 TCN, Alếchxăng từ Ai Cập tiến lên đánh vào trung tâm của đế quốc Ba Tư và đến năm 328 TCN thì hoàn toàn tiêu diệt đế quốc rộng lớn này.

Năm 327 TCN, quân Makêđônia đánh chiếm được vùng Pungiáp của An Độ, nhưng tiếp đó gặp nhiều khó khăn nên phải rút lui.

Năm 325 TCN quân Makêđônia về đến Babilon và thành phố này được Alếchxăng chọn làm kinh đô của đế quốc do ông thành lập.

4. Sự tan rã của đế quốc Makêđônia

a/ Các nước Hy Lạp hóa:

Năm 323 TCN, khi Alếchxăng đang dự định tiến hành một cuộc chiến tranh mới tấn công sang phía Tây thì ông bị chết đột ngột vì bệnh sốt rét ác tính. Năm ấy ông mới 33 tuổi.

Sau khi Alếchxăng chết, các tướng lĩnh của ông không ngừng đánh nhau để tranh giành quyền bính. Do vậy sang thế kỷ III TCN, đế quốc Makêđônia bị chia thành nhiều nước, trong đó có ba nước lớn:

+ Makêđônia và Hy Lạp do dòng dõi của Antigôn thống trị.

+ Vùng đất của đế quốc Ba Tư cũ ở châu Á do Xêlơcút thống trị.

+ Ai Cập do dòng dõi của Ptôlêmê thống trị.

Ngoài ra còn có những nước nhỏ khác như Pécgam, Rôđốt, Pácti, Bắtơria.

Những quốc gia phương Đông nói trên đến thời cận đại được gọi là những nước Hy Lạp hoá. Trong các nước này, chế độ quân chủ chuyên chế phương Đông vẫn được duy trì, song từ vua cho đến đại bộ phận quan lại và binh lính đều là người Makêđônia và Hy Lạp, còn cư dân địa phương thì bị biến thành quần chúng bị áp bức bóc lột.

Tuy nhiên do sự giao lưu về kinh tế và văn hóa giữa phương Đông và phương Tây, nền công thương nghiệp của các nước này có một bước tiến rõ rệt, nhiều thành phố đã trở nên phồn vinh, đông đúc trong đó đặc biệt nhất là Alếchxăngđri, kinh đô của vương triều Ptôlêmê ở Ai Cập.

Ở Alếchxăngđri có một công trình kiến trúc nổi tiếng, đó là tháp hải đăng xây bằng đá hoa trắng.

Có tài liệu nói, ngọn tháp này xây năm 285 TCN, cao 122m, trên đó đèn được thắp sáng thâu đêm, từ ngoài biển khơi cách 40 km cũng có thể nhìn thấy. Tháp hải đăng Alếchxăngđri được coi là một trong 7 kì quan của thế giới cổ đại nhưng đã bị đổ năm 1302. Đồng thời Alếchxăngđri có một viện bảo tàng lớn, trong đó có một thư viện bảo tồn mấy chục vạn quyển sách chép tay. Ở đây còn có phòng nghiên cứu, giảng đường. Học giả nhiều nước đã tập trung về đây làm việc.

b/ Vận mệnh của Hy Lạp sau khi đế quốc Makêđônia tan rã:

Sau khi Alếchxăng chết nhiều thành bang Hy Lạp đã dấy lên phong trào chống Makêđônia. Ở Xpác còn tiến hành một số cải cách dân chủ.

Trong khi đó, ở phía Tây, La Mã đang trở thành một đế quốc hùng mạnh và đang có mưu đồ chinh phục khu vực phía Đông Địa Trung Hải.

Sau 3 cuộc chiến tranh đến năm 168 TCN, Makêđônia bị La MÃ tiêu diệt.

Năm 146 TCN chỉ trừ Aten và Xpác về danh nghĩa còn được tự trị, các thành bang Hy Lạp khác đều bị nhập vào đế quốc La Mã và sau này đổi tên thành tỉnh Acai ( Akêăng).

(Nguồn tài liệu: Nguyễn Gia Phu, Giáo trình Lịch sử thế giới cổ đại)

Rate this post

Leave A Reply

Your email address will not be published.